Báo cáo hàng tuần về chỉ số giá thép Trung Quốc của CSPI vào cuối tháng 5

Trong tuần từ ngày 27 tháng 5 đến ngày 31 tháng 5, chỉ số giá thép trong nước giảm, trong đó chỉ số giá thép dài và chỉ số giá thép tấm đều giảm.

Tuần đó, Chỉ số giá thép Trung Quốc (CSPI) là 107,03 điểm, giảm 0,59 điểm so với tuần trước, giảm 0,55%; so với cuối tháng trước tăng 0,25 điểm, tương ứng 0,23%; so với cuối năm ngoái, giảm 5,87 điểm, tương ứng 5,20%; so với cùng kỳ năm trước tăng 0,14 điểm, tương ứng 0,13%.

Trong đó, chỉ số giá thép dài là 110,91 điểm, giảm 0,63 điểm so với tuần trước, tương ứng 0,57%; tăng 1,51 điểm, tương ứng 1,38% so với cuối tháng trước; giảm 5,20 điểm so với cuối năm trước, tương ứng 4,48%; tăng 1,21 điểm so với cùng kỳ năm trước, tương ứng 1,10%.

Chỉ số giá thép tấm là 104,51 điểm, giảm 0,60 điểm so với tuần trước, tương ứng 0,57%; giảm 0,47 điểm so với cuối tháng trước, tương ứng 0,45%; giảm 7,29 điểm so với cuối năm trước, tương ứng 6,52%; giảm 3,09 điểm so với cùng kỳ năm trước, tương ứng 2,87%.

Góc nhìn tiểu vùng, chỉ số giá thép của 6 vùng chính của cả nước đều giảm theo tuần, trong đó vùng Đông Bắc giảm nhiều nhất, vùng Tây Nam giảm ít nhất.

Cụ thể, chỉ số giá thép tại miền Bắc Trung Quốc là 106,43 điểm, giảm 0,62 điểm, tương ứng 0,58% so với tuần trước; so với cuối tháng trước tăng 0,08 điểm, tương ứng 0,08%.

Chỉ số giá thép Đông Bắc là 106,43 điểm, giảm 0,97 điểm so với tuần trước, tương ứng giảm 0,90%; so với cuối tháng trước tăng 0,61 điểm, tương ứng tăng 0,58%.

Chỉ số giá thép Đông Trung Quốc là 107,78 điểm, giảm 0,49 điểm so với tuần trước, giảm 0,45%; so với cuối tháng trước tăng 0,38 điểm, tăng 0,35%.

Chỉ số giá thép khu vực miền Trung và miền Nam đạt 108,65 điểm, giảm 0,61 điểm so với tuần trước, tương ứng giảm 0,56%; so với cuối tháng trước tăng 0,31 điểm, tương ứng tăng 0,28%.

Chỉ số giá thép Tây Nam là 106,82 điểm, giảm 0,42 điểm so với tuần trước, tương ứng giảm 0,39%; so với cuối tháng trước tăng 0,67 điểm, tương ứng tăng 0,63%.

Chỉ số giá thép Tây Bắc đạt 107,64 điểm, giảm 0,66 điểm so với tuần trước, tương ứng giảm 0,61%; so với cuối tháng trước tăng 0,27 điểm, tương ứng tăng 0,25%.

thép dài

Xét theo phân loại, so với cuối tháng trước, giá của 8 loại thép chính đều tăng giảm, trong đó tăng nhiều nhất là thép cây, giảm nhiều nhất là tôn cán nguội.

Cụ thể, giá thép dây cao 6mm đường kính 4.021 nhân dân tệ/tấn, so với cuối tháng trước tăng 73 nhân dân tệ/tấn, tương ứng 1,85%;

Giá thép cây đường kính 16 mm là 3.747 nhân dân tệ/tấn, tăng 69 nhân dân tệ/tấn so với cuối tháng trước, tăng 1,88%;

Giá thép góc 5# là 3926 nhân dân tệ/tấn, tăng 16 nhân dân tệ/tấn so với cuối tháng trước, tăng 0,41%;

Giá thép tấm trung bình 20 mm là 3.903 nhân dân tệ/tấn, so với cuối tháng trước giảm 2 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,05%;

Giá thép cuộn cán nóng 3mm là 3.927 nhân dân tệ/tấn, giảm 7 nhân dân tệ/tấn so với cuối tháng trước, giảm 0,18%;

Giá tôn cán nguội 1mm là 4.398 nhân dân tệ/tấn, so với cuối tháng trước giảm 80 nhân dân tệ/tấn, giảm 1,79%;

Giá tôn mạ kẽm 1mm là 4920 nhân dân tệ/tấn, so với cuối tháng trước giảm 36 nhân dân tệ/tấn, giảm 0,73%;

Giá ống thép cán nóng liền mạch đường kính 219 mm x 10 mm là 4.776 nhân dân tệ/tấn, giảm 6 nhân dân tệ/tấn so với cuối tháng trước, giảm 0,13%.

thép dài

Về mặt chi phí, số liệu của Tổng cục Hải quan cho thấy, tháng 4, giá quặng sắt nhập khẩu bình quân là 113,12 USD/tấn, giảm 12,84 USD/tấn, tương ứng giảm 10,19%; so với giá bình quân tháng 12/2023 giảm 10,14 USD/tấn, tương ứng giảm 8,23%; so với cùng kỳ năm ngoái, thấp hơn mức 7,42 USD/tấn, tương ứng giảm 6,16%.

Trong tuần từ ngày 27 đến ngày 31 tháng 5, giá quặng sắt cô đặc trong nước là 989 NDT/tấn, tăng 34 NDT/tấn hoặc 3,56% so với cuối tháng trước; giảm 121 NDT/tấn hoặc 10,90% so với cuối năm ngoái; tăng 97 NDT/tấn hoặc 10,87% so với cùng kỳ năm ngoái.

Giá than cốc (loại 10) là 1.963 RMB/tấn, giảm 45 RMB/tấn hay 2,24% so với cuối tháng trước; giảm 630 RMB/tấn hay 24,30% so với cuối năm ngoái; tăng 325 RMB/tấn hay 19,84% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá than cốc là 2.004 RMB/tấn, tăng 75 RMB/tấn hay 3,89% so với cuối tháng trước; giảm 450 RMB/tấn hay 18,34% so với cuối năm ngoái; tăng 56 RMB/tấn hay 2,87% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá phế liệu là 2.878 RMB/tấn, tăng 32 RMB/tấn hay 1,12% so với cuối tháng trước; giảm 111 RMB/tấn hay 3,71% so với cuối năm ngoái; giảm 32 nhân dân tệ/tấn, tương ứng 1,12% so với cùng kỳ năm ngoái.

thép dài

Trên thị trường quốc tế, trong tháng 4, chỉ số giá thép quốc tế CRU đạt 205,6 điểm, giảm 4,6 điểm tương ứng 2,2%; giảm 13,1 điểm tương ứng 6,0% so với cuối năm ngoái; giảm 44,2 điểm tương ứng 17,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong đó, Chỉ số giá sản phẩm dài CRU là 209,3 điểm, giảm 8,1 điểm, hay 3,7%; giảm 32,6 điểm, hay 13,5% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tấm CRU là 203,8 điểm, giảm 17,3 điểm, hay 7,8%; giảm 50,0 điểm, hay 19,7% so với cùng kỳ năm trước.

Xét theo tiểu vùng, trong tháng 4, chỉ số giá của Bắc Mỹ là 250,9 điểm, tăng 9,7 điểm hoặc 4,0%; chỉ số giá của châu Âu là 221,8 điểm, giảm 12,4 điểm hoặc 5,3%; chỉ số giá của châu Á là 170,0 điểm, giảm 8,7 điểm hoặc 4,9%.

Tuần đó, giá thép trong nước giảm chung. Tháng 5, giá thép tăng giảm, nhìn chung cho thấy xu hướng chạy theo kiểu sốc. Xét về nhu cầu hạ nguồn, nhu cầu thực tế và kỳ vọng của thị trường so với kỳ trước đã cải thiện rất nhiều. Sang tháng 6, so với tháng 5, nhu cầu dự kiến ​​sẽ cải thiện không gian hạn chế. Về phía cung, chủ yếu là để xem sự hạ cánh của chính sách kiểm soát sản xuất thép thô. Xét về toàn diện, dự kiến ​​trong ngắn hạn, giá thép tiếp tục dao động mạnh.


Thời gian đăng: 07-06-2024